Chúa Nhật V thường niên - Năm A
 
 

Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.

Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng ai thắp đèn lên rồi lại đặt bên dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và nó soi sáng cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.

Khi phán điều này, Chúa Giêsu đã cho các môn đệ của Ngài một tiêu chuẩn cao quí nhất. Khi muốn nhấn mạnh về giá trị và ích lợi vững chắc của ai, chúng ta bảo người như thế giống như muối của đất.

Trong thế giới ngày xưa, muối rất quí giá, người Rôma thường nói :"không có gì lợi ích hơn mặt trời và muối" (Nil utilius Sole et sale). Trong thời Chúa Giêsu người ta liên hệ muối với 3 phẩm tính đặc biệt:

1. Muối được liên kết với sự thánh thiện do màu trắng lóng lánh của nó. Người Hi lạp nói rằng muối là vật tinh khiết nhất, vì nó phát xuất từ hai nguồn tinh khiết nhất: mặt trời và biển cả. Muối là lễ vật cổ xưa nhất dâng cho các thần. Cuối mỗi ngày, lễ vật của người Do thái phải được dâng lên với muối. Vậy, nếu người kitô hữu phải là muối của thế gian thì phải là gương sáng về sự thánh thiện.

Một trong các đặc tính của thế gian là hạ thấp các tiêu chuẩn về lòng thật thà, sự siêng năng, sự tận tâm, đạo đức. Kitô hữu phải là người nâng cao tiêu chuẩn thánh thiện trong lời nói, trong cách cư xử, và ngay cả trong tư tưởng. Không một kitô hữu nào được tách khỏi những tiêu chuẩn của sự thành thật. Không kitô hữu nào được phép khinh xuất các tiêu chuẩn đạo đức trong một thế giới mà phố xá thị thành là nơi mời gọi, dụ dỗ con người sa vòng tội lỗi. Không người kitô hữu nào được tự cho phép nói những lời gợi ý dơ bẩn hay giễu cợt hạ cấp thường nghe trong lời trao đổi thông thường. Kitô hữu không thể ra khỏi thế gian, nhưng như thánh Giacôbê nói:"Phải giữ mình khỏi sự ô uế của thế gian" (1,27).

2/ Trong thế giới cổ xưa, muối là chất thông dụng nhất dùng để bảo tồn thực phẩm. Muối giữ cho đồ ăn khỏi hư thối. Phutarque diễn tả tính chất này khá đặc biệt : ông nói thịt là một xác chết và là một phần của tử thi, nếu cứ để nó sẽ thối, nhưng muối bảo tồn, giữ cho nó tươi. Do đó, muối giống như một linh hồn mới ghép chung vào một thi thể. Vậy muối giữ cho thịt không hư hoại. Nếu kitô hữu là muối của thế gian thì phải có ảnh hưởng sát trùng trong cuộc sống. Có những người ở gần họ chúng ta dễ trở nên tốt, nhưng có những người mà ở gần họ thì các tiêu chuẩn đạo đức bị hạ thấp. Có những người khi có mặt người ta thường nói những truyện dơ dáy, trong khi một số người khác hễ có mặt nơi nào thì không ai dám nói những truyện bậy bạ. Kitô hữu phải là thuốc sát trùng tẩy sạch môi trường xã hội mình sống, phải là người khi hiện diện thì sẽ xua đuổi sự hư hoạt và làm người khác trở nên tốt.

3. Nhưng phẩm chất quan trọng và rõ ràng nhất của muối là cho thêm hương vị. Đồ ăn không có muối thì vô vị, nhạt nhẽo, có khi trở thành kinh tởm, gây buồn nôn. Kitô giáo với đời sống như muối đối với đồ ăn vậy. Đạo Kitô tăng thêm hương vị cho cuộc đời. Điều bi đát là lắm khi người ta liên kết Kitô giáo với điều đối ngược lại, họ cho rằng đạo Kitô tước đoạt hương vị khỏi đời sống. Sau khi theo đạo, hoàng đế Constantin đã biến Kitô giáo thành quốc giáo của đế quốc Rôma, một hoàng đế khác lên ngôi đã đi ngược lại, đưa các tà thần xưa trở về, người ta ghi lại lời than trách của vị vua Julian : "Các bạn có nhìn những kitô hữu này không ? Mắt trũng sâu, má hóp xanh xao, ngực lép xẹp, họ xua đuổi cuộc sống, không màng danh vọng, mặt trời soi sáng cho họ nhưng họ chẳng thấy, trái đất cung hiến dư dật nhưng họ không ham thích... Tất cả ước ao của họ là từ bỏ và chịu đau khổ để có thể bước vào cõi chết". dưới con mắt của Julian thì Kitô giáo đã lấy mất sự sinh động ra khỏi cuộc sống.

Người đời cần khám phá sự rạng rỡ của niềm tin Kitô giáo. Trong thế giới đầy lo âu, kitô hữu phải là người có được sự bình an. Trong một thế giới đầy ưu phiền, kitô hữu phải là người có đầy niềm vui của cuộc sống. Vô luận ở nơi nào, nếu người kitô hữu là muối của thế gian, thì phải là người gieo rắc niềm vui.

Chúa Giêsu tiếp tục phán : nếu muối mất mặn thì chỉ đáng quăng ra ngoài và bị người ta chà đạp. Trong tác phẩm “Chúa Giêsu của Palestine” Bishop kể lại một lời giải thích của cô Newton : tại Palestine bếp lò thường ở ngoài trời và làm bằng đá trên nền (đế) bằng ngói. Trong các lò lộ thiên như vậy muốn giữ sức nóng người ta đổ một lớp muối dày ở dưới nền ngói. Sau một thời gian, muối mất mặn, người ta lật những miếng ngói lên, lấy muối ra, đổ trên đường ngoài cửa lò. Nó đã mất năng lực làm cho tấm ngói nóng lên bị quăng ra ngoài. Đó chắc hẳn là hình ảnh nói ở đây.

Nhưng lời Chúa nhấn mạnh đó là sự vô dụng đưa đến tai họa. Nếu kitô hữu nào không làm trọn mục đích của mình thì người ấy đang ở trên con đường tai họa. Chúng ta phải là muối của đất, nếu chúng ta không đem lại cho đời sự thanh sạch, khả năng tẩy uế, sự sáng rỡ đáng phải có, thì ta đang mời gọi tai họa đến.

Còn một điều đáng lưu ý nữa là đôi khi Hội Thánh đầu tiên áp dụng câu này cách rất lạ. Trong hội đường, người Do thái có một tục lệ : nếu một người Do thái bỏ đạo, nhưng rồi lại trở về với đức tin, trước khi được thâu nhận lại, người ấy phải ăn năn bằng cách nằm ngang cửa nhà hội và mời gọi mọi người bước lên mình mà bước vào. Ở một số nơi, Hội Thánh cũng theo tục lệ đó. Một kitô hữu bị đuổi khỏi Hội Thánh vì bị kỷ luật, trước khi được thâu nhận lại, buộc phải nằm trước cửa nhà thờ và mời người bước vào : "Hãy dẵm lên tôi là muối mất vị mặn".

 

                   trang suy niệm hằng tuần